Ở xứ Huế, chùa chiền không chỉ là chốn thờ tự linh thiêng, mà từ lâu đã trở thành một nét vẽ không thể thiếu trong bức tranh văn hóa Cố đô. Nếu như cung đường ven sông Hương đã đưa bạn dạo bước qua Thiên Mụ mộng mơ hay Huyền Không thanh tịnh, thì sâu trong những ngõ nhỏ, lưng chừng đồi thông vẫn còn đó những chốn thiền uyển trầm mặc, vẹn nguyên nét hoài cổ. Nơi đó không có sự xô bồ, chỉ có tiếng lá rơi xào xạc, tiếng chuông ngân nga xua tan mọi muộn phiền. Hãy cùng Huekhongbuon bước chậm lại một nhịp, khám phá thêm những danh lam cổ tự tuyệt đẹp dưới đây để tìm một chốn 'trú ẩn' bình yên cho tâm hồn mình nhé!
Năm xây dựng: Khoảng năm 1690, cuối thế kỷ 17 (Thời chúa Nguyễn Phúc Thái).
Địa chỉ: Số 1 đường Sư Liễu Quán, P. Trường An, TP. Huế.
Đặc điểm nổi bật: Tuy không phải là ngôi chùa cổ nhất, nhưng nơi đây là trung tâm Phật giáo rực rỡ mang bề dày văn hóa lịch sử lâu đời của cố đô. Kiến trúc chùa là sự giao thoa tuyệt đẹp giữa nét truyền thống và hiện đại, mang lại không gian trang nghiêm nhưng vô cùng sâu lắng.
Năm xây dựng: Chùa được thiền sư Nguyên Thiều khai sơn vào cuối thế kỷ XVII với tên gọi ban đầu là Hàm Long Thiên Thọ tự. Sau đó, chúa Nguyễn Phúc Chu đã ban tấm biển "Sắc Tứ Báo Quốc Tự". Đến năm 1824, vua Minh Mạng đã sắc phong chùa là Quốc tự, trực tiếp đứng ra trùng tu và ban cho tên gọi Báo Quốc như ngày nay. Tên gọi này mang ý nghĩa là "ngôi chùa đền ơn đất nước".
Địa chỉ: Đường Báo Quốc, P. Phường Đúc (ngự trên đồi Hàm Long).
Đặc điểm nổi bật: Là danh lam cổ tự tĩnh lặng nằm lọt thỏm giữa những tán cây cổ thụ rợp bóng. Chùa nổi danh với giếng cổ Hàm Long thanh mát và khu tháp tổ rêu phong nhuốm màu thời gian, cực kỳ lý tưởng để bạn trút bỏ mọi muộn phiền phố thị.
Năm xây dựng: Khởi dựng vào năm 1843.
Địa chỉ: Thôn Dương Xuân Thượng III, đường Lê Ngô Cát, P. Thủy Xuân, TP. Huế.
Đặc điểm nổi bật: Cứ mỗi dịp Vu Lan về, hoa hồng lại rực rỡ nơi đây để nhắc nhớ về lòng hiếu thảo cảm động của cội nguồn. Chìm trong rừng thông xanh mướt reo vui trong gió, chốn thiền môn này cũng là nơi an nghỉ an yên của thiền sư Thích Nhất Hạnh.
Năm xây dựng: Khởi lập năm 1960 bởi sư Hộ Nhẫn.
Địa chỉ: Đồi Quảng Tế, thôn Thượng 2, xã Thủy Xuân, TP. Huế.
Đặc điểm nổi bật: Khác biệt hoàn toàn với hệ thống tự viện xứ Huế, chùa mang sắc vàng rực rỡ pha lẫn kiến trúc Phật giáo Nam Tông của Thái Lan và Ấn Độ. Điểm nhấn làm du khách choáng ngợp là những bức tượng Phật đứng và Phật nằm khổng lồ uy nghi, từ bi giữa tuệ uyển.
Năm xây dựng: Khởi dựng năm 1905 do Sa di ni Trừng Giáp lập nên.
Địa chỉ: Số 91 đường Điện Biên Phủ, P. Trường An (Thuận Hóa), TP. Huế.
Đặc điểm nổi bật: Từng là nơi chốn hội tụ đàm đạo thường niên của giới học giả thiền môn xứ Huế xưa. Bước vào chùa, bạn sẽ cảm nhận ngay sự thanh tịnh trước pho tượng đức Phật A Di Đà bằng gỗ mít cổ kính và không gian thiền tịnh trang nghiêm.
Năm xây dựng: Được xây dựng khoảng nửa sau thế kỉ thứ XVII, dưới thời chúa Nguyễn Phúc Tần. Đến năm 1836 chùa được vua Minh Mạng sắc phong lên hàng Quốc tự.
Địa chỉ: Núi Túy Vân, xã Vinh Hiền, huyện Phú Lộc.
Đặc điểm nổi bật: Là một trong số ít những "Quốc tự" ranh giá của triều Nguyễn, tọa lạc lơ lửng trên đỉnh núi tuyệt mỹ. Đứng từ tháp Điều Ngự phóng tầm mắt ra xa, bạn sẽ thu trọn vào lòng vẻ đẹp mênh mang, miên man của phá Tam Giang lúc chiều tà. Chùa Thánh Duyên chính là cảnh đẹp thứ 9 trong bộ 20 cảnh đẹp nhất xứ Huế dưới thời vua Thiệu Trị, được gọi là "Thần kinh nhị thập cảnh".
Năm xây dựng: Dưới thời Lê Trung Hưng (khoảng thế kỷ 16).
Địa chỉ: Làng Hiền Lương, xã Phong Hiền, huyện Phong Điền (cách trung tâm 21km).
Đặc điểm nổi bật: Tiêu biểu cho phong cách kiến trúc mộc mạc của chùa làng vùng Bắc Trung bộ với cổng Tam quan đồ sộ. Chùa mang đậm giá trị hoài cổ khi lưu giữ 7 pho tượng Phật cổ sơn son thiếp vàng và quả chuông lớn đúc từ thời Gia Long.
Năm xây dựng: Cuối thế kỷ 17 (1649 – 1687, thời chúa Nguyễn Phúc Tần).
Địa chỉ: 27 Trần Thái Tông, phường Thủy Xuân, TP. Huế.
Đặc điểm nổi bật: Tọa lạc trên một ngọn đồi cao thoáng đãng, chùa ôm trọn vào mình bầu không khí xanh mát, tĩnh lặng tuyệt đối. Nơi đây hiện vẹn nguyên nét hoài cổ với bộ tượng Phật Thích Ca, Ca Diếp và A Nan bằng gỗ mít mang giá trị nghệ thuật cực cao.
Năm xây dựng: Đây là ngôi Tổ đình đầu tiên của thiền phái Lâm Tế tại miền Trung, do thiền sư Nguyên Thiều (người Trung Hoa) khai sơn vào khoảng năm 1682–1684.
Địa chỉ: 43 Đặng Huy Trứ, phường Trường An, Thành phố Huế.
Đặc điểm nổi bật: Là ngôi tổ đình lừng danh do chính Tổ sư Nguyên Thiều thiết kế theo lối kiến trúc chữ Khẩu truyền thống đặc trưng của vùng Thuận Hóa xưa. Không gian cổ tự rêu phong ẩn mình giữa cỏ cây tạo nên một lằn ranh giao thoa êm đềm giữa quá khứ và hiện tại. Chùa còn lưu giữ tấm biển "Sắc tứ Quốc Ân Tự" cùng chiếc khánh đồng từ thời Minh Mạng
Năm xây dựng: Năm 1844 dưới thời vua Thiệu Trị. Chùa Diệu Đế cùng với chùa Thiên Mụ và chùa Thánh Duyên là ba ngôi quốc tự của nhà Nguyễn còn tồn tại đến ngày nay.
Địa chỉ: Số 100B đường Bạch Đằng, P. Phú Cát, TP Huế.
Đặc điểm nổi bật: Vốn là phủ đệ của vua Thiệu Trị trước khi lên ngôi, sau trở thành ngôi Quốc tự lãng mạn nép mình bên dòng sông Đông Ba (Hộ Thành). Chùa có khuôn viên rộng rãi, cảnh quan soi bóng mặt nước tuyệt đẹp, giúp rửa trôi mọi vương vấn thế tục. Đặc biệt, tại trần của điện Đại Giác vẫn còn bảo tồn được bức tranh “Long vân khế hội” (hay còn gọi là "Cửu Long Ẩn Vân") , tương truyền do nghệ nhân cung đình Phan Văn Tánh thực hiện.
Năm xây dựng: Xây dựng năm 1948 bởi Hoà Thượng Thích Đảnh Lễ.
Địa chỉ: 79 Nguyễn Phúc Chu, Hương Long, Huế, Thành phố Huế, nằm ẩn mình dưới chân ngọn đồi nhỏ tên là Rú Vi, sát bên bờ sông Bạch Yến.
Đặc điểm nổi bật: Khác với vẻ lộng lẫy thường thấy, nơi đây mang dáng dấp của một "thiền uyển" mộc mạc với kiến trúc chữ Khẩu khép kín. Không cổng tam quan đồ sộ, khuôn viên 4.000m2 rợp bóng cây xanh chính là trạm dừng chân "chữa lành" tịnh tâm vô cùng hoàn hảo.
Năm xây dựng: Dựng vào năm 1850 bởi Thiền sư Huệ Cảnh.
Địa chỉ: Đường Trần Thái Tông, P. Thủy Xuân, TP Huế.
Đặc điểm nổi bật: Là cái nôi của thiền môn xứ Huế, trải qua bao dâu bể trùng tu nhưng vẫn giữ trọn vẹn nét đẹp trầm mặc và linh thiêng rất riêng. Những dấu ấn kiến trúc cổ xưa lưu giữ nơi đây như dẫn dắt du khách bước lùi về sự nguyên sơ của tâm hồn.
Năm xây dựng: Tiền thân là một ngôi Đền Quan Thánh thờ Quan Công – người đại diện cho tấm gương trung nghĩa. Đến năm 1932, khi vua Bảo Đại thành lập Hội Phật Học An Nam để chấn hưng Phật giáo trong nước, chùa được đổi tên thành Thuận Hóa và chuyển sang thờ Phật Thích Ca Mâu Ni.
Địa chỉ: 114 đường Bạch Đằng, thành phố Huế.
Đặc điểm nổi bật: Là ngôi cổ tự hiếm hoi phá cách với lối kiến trúc hội quán đặc trưng rực rỡ và tinh xảo của người Hoa. Ngôi chùa mang lại cảm giác bình yên lạ kỳ khi đón gió từ mặt sông thổi vào.
Năm xây dựng: Khởi dựng năm 1968 và được trùng tu vào năm 1999.
Địa chỉ: Tọa lạc trên đỉnh núi Tứ Tượng, xã Thủy Bằng, TP. Huế.
Đặc điểm nổi bật: Vượt qua những bậc đá trải dài dưới tán rừng thông xanh mát, du khách sẽ được chiêm bái bức tượng Quán Thế Âm Bồ Tát uy nghi, hiền từ đứng giữa mây trời. Nơi đây không chỉ là một thánh tích tâm linh quan trọng, mà còn mang đến một không gian tĩnh lặng, giúp bất cứ ai đặt chân đến cũng thấy lòng mình thanh thản giữa những bộn bề, lo toan của cuộc sống.
Năm xây dựng: Khai sơn năm 1924 bởi Sư bà Thích Nữ Hướng Đạo.
Địa chỉ: 4/126 D. Nguyễn Hữu Cảnh, Thủy Dương, Thành phố Huế.
Đặc điểm nổi bật: Đây là ngôi chùa dành cho sư nữ đầu tiên của đất Thần Kinh, gắn liền với các hoạt động thiện nguyện ấm áp. Nổi bật nhất là chiếc cổng tam quan Thanh Trúc động Quán Thế Âm được tạo hình tạc thẳng vào hang động vô cùng độc đáo, mang "vibe" thanh tịnh và mềm mại.
Năm xây dựng: Được bà Công Tôn Nữ Thị Tư cho xây dựng vào năm 1886 để làm nơi tu hành cho chồng là ông Bố chánh Nguyễn Khoa Luận, đạo hiệu là Viên Giác Đại Sư, pháp danh Thanh Chân.
Địa chỉ: Tọa lạc trên đường Nguyễn Sinh Cung, phường Vỹ Dạ, TP. Huế.
Đặc điểm nổi bật: Khác với những ngôi cổ tự nằm trên đồi cao, Ba La Mật bình yên nép mình giữa vùng đồng bằng phồn hoa, gắn liền với giai thoại vị quan triều Nguyễn "treo ấn từ quan" nương nhờ cửa Phật. Không gian nơi đây vô cùng thanh tịnh, đặc biệt gây ấn tượng mạnh với du khách bởi bộ tượng 18 vị A La Hán cưỡi thú được nghệ nhân điêu khắc cực kỳ tinh xảo và tuyệt mỹ.